Bộ luật hình sự quy định như thế nào về đồng phạm?

  1. Khái niệm đồng phạm:

Khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999 định nghĩa: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Như vậy, có hai dấu hiệu cơ bản để phân biệt đồng phạm với phạm tội đơn. Đó là:

-   Về số lượng: Đồng phạm phải có từ hai người trở lên và những người này phải có năng lực trách nhiệm hình sự cũng như đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình. Nếu tội phạm đòi hỏi có chủ thể đặc biệt thì chỉ cần người trực tiếp thực hiện tội thực hành thoả mãn dấu hiệu của chủ thể đặc biệt còn những người đồng phạm khác không cần tới những dấu hiệu này.

-   Về lỗi của những người đồng phạm: Lỗi của những người đồng phạm là lỗi cố ý, tức là “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra” hoặc “người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra”.

Mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi phạm tội của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý của những người đồng phạm khác.

  1. Các loại người đồng phạm.

Khoản 2 điều 20 BLHS quy định về các loại người đồng phạm, trong đó nêu rõ có bốn loại người đồng phạm, đó là: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức. Trong đó:

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.”

  1. Trách nhiệm hình sự trong đồng phạm.

-   Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm: Tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử theo cùng một tội danh, cùng điều luật và trong phạm vi chế tài của điều luật ấy.                                 

-   Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập.

Điều 53 BLHS quy định: “Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Toà án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.”

  1. Phạm tội có tổ chức

Phạm tội có tổ chức là một trường hợp đồng phạm đặc biệt. Điều 20 BLHS định nghĩa: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”.

 



Tin liên quan

Hỗ trợ trực tuyến

HOTLINE :
091 514 9999 - 098 887 6556

support LS Thanh Hải
039 340 8888
support LS Tiến Thi
0926 557 886

Tin tức mới

Thống kê truy cập

Tổng lượt xem 101700
Đang Online 30