Một số vấn đề về giá đất hiện nay

Trong các loại tài nguyên vốn có, thiết yếu đối với cuộc sống của con người như: nước, không khí,… thì đất đai là một thành tố quan trọng. Đối với con người, đất đai không chỉ là nơi ở, sinh hoạt mà nó còn là nơi để con người canh tác, phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy đất nước đi lên. Ở Việt Nam – nước đang phát triển với dân số đông thì những vấn đề liên quan đến đất đai luôn bức thiết. Do vậy, các quy định về giá đất luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của dư luận bởi nó liên quan thiết thực đến quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Theo Luật đất đai năm 2013 tại khoản 19 Điều 3 qui định: “Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất”. Cụ thể:

Thứ nhất, trong việc thu tiền sử dụng đất:

Từ trước đến giờ, mức giá thu tiền sử dụng đất luôn là một trong những tiêu chí tác động đến việc các chủ thể đi đăng ký quyền sử dung đất, bởi tiền thủ tục hành chính chiếm một khoản nhỏ nhưng tiền nộp sử dụng đất thì không phải ít. Hiện nay, khung giá đất của Chính phủ và Bảng giá đất đã được quy định chi tiết và cụ thể hơn, phù hợp với từng vùng. Điều này cũng phần nào nâng cao sự tự giác đi đăng ký đất và nộp tiền sử dụng đất của các chủ thể.

Các quy định này giúp công việc thu tiền sử dụng đất được rõ ràng và thuận tiện, vừa làm tăng nguồn thu tài chính từ đất đai vừa giúp chủ thể có thể chiếu theo điều luật này để lựa chọn phù hợp trong việc chuyển mục đích sử dụng đất.

Thứ hai, trong vấn đề thu tiền thuê đất:

Vấn đề thu tiền thuê đất đã được cụ thể hóa trong Luật đất đai 2013 và quy định chi tiết trong Nghị định của Chính phủ số 46/2014/NĐ-CP. Do đó, Nhà nước sẽ căn cứ vào bảng giá đất do Nhà nước quy định để tính số tiền người thuê đất phải trả, chứ không dựa trên giá đất thị trường. Điều 4 Nghị định 46/2014/NĐ-CP quy định: ''Đối với đất thuộc đô thị, trung tâm thương mại, dịch vụ... thì căn cứ vào thực tế địa phương, UBND cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phần trăm giá đất để xác định đơn giá thuê đất một năm nhưng tối đa không quá 3%. Đất ở vùng sâu, vùng xa, đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp...''. Có thể thấy, giá đất được lấy làm mốc cơ bản để quy đổi ra giá thuê của các loai đất khác nhau. Điều này không chỉ giúp người thuê đất có thể dự liệu trước về số tiền cần phải trả, có sự chuẩn bị tốt hơn trước khi thuê đất, mà còn giúp họ có các hoạch toán phù hợp cho việc kinh doanh.

Bên cạnh đó, nếu căn cứ vào giá đất pháp luật quy định thì giá thuê đất sẽ thấp hơn rất nhiều so với việc xác định giá thuê dựa trên giá thị trường. Điều này, đem lại lợi ích cho người thuê đất, khuyến khích họ thuê đất. Đồng thời, giảm bớt số lượng đất bỏ không, đất không sử dụng hoặc sử dụng không phù hợp của quốc gia.

Thứ ba, về việc thực hiện các nguồn thu tài chính về đất đai từ thuế và lệ phí.

Về lệ phí, nộp lệ phí địa chính- đây là lệ phí phải nộp khi làm thủ tục đo đạc, cắm mốc, chứng nhận biến động quyền sử dung đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều đó cho thấy lệ phí này không phụ thuộc vào giá đất.

Nộp lệ phí trước bạ nhà đất là khoản phí mà người sử dụng đất phải nộp khi thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất, sang tên trước bạ. Giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành tại thời điểm kiểm kê khai nộp lệ phí trước bạ hoặc nếu đất mua theo phương thức đấu giá, đấu thầu thì giá tính lệ phí trước bạ là giá thực tế ghi trên hóa đơn mua hàng. Như vậy, lệ phí trước bạ chịu sự tác động lớn của giá đất theo quy định của pháp luật.

Các khoản thu tài chính về đất đai từ thuế: bảng giá đất là căn cứ để tính thuế sử dụng đất. Đối với khoản thu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp thì giá đất có biến động thì cũng không ảnh hưởng đến khoản thu này bởi vì căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp dựa vào:

- Diện tích

- Hạng đất

- Định suất thuế tính bằng kilogam thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất.

Thuế thu nhập chuyển quyền sử dụng đất là một trong những khoản tiền quan trọng thu từ các giao dịch dân sự có liên quan đến đất đai vào ngân sách Nhà nước. Căn cứ để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất là diện tích đất, giá đất tính thuế và thuế suất. Vì vậy có thể coi giá đất là một trong những căn cứ vô cùng quan trọng để xác định được thuế chuyển quyền sử dụng đất và nhờ xác định được giá đất mà Nhà nước có thể thu được thuế chuyển quyền sử dụng đất, tránh thất thu cho ngân sách Nhà nước.

Thứ tư, về tiền phạt đối với các hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai và bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý, sử dụng đất đai.

Theo Điều 114 Luật đất đai 2013, bảng giá đất được sử dụng làm căn cứ:

- tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý sử dụng đất.

- tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Theo đó, các hình thức xử phạt chính bao gồm: cảnh cáo và phạt tiền. Tại chương II Nghị định quy định mức phạt cụ thể đối với từng hành vi vi phạm như:

- từ 2 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng.

- đối với hành vi chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép sang đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muooics thì phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 30 triệu đồng.

Như vậy, có thể thấy giá đất không ảnh hưởng tới mức phạt tiền đối với các hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai và bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý, sử dụng đất đai.

>>> Xem thêm:



Tin liên quan

Hỗ trợ trực tuyến

HOTLINE :
091 514 9999 - 098 887 6556

support LS Thanh Hải
039 340 8888
support LS Tiến Thi
0926 557 886

Tin tức mới

Thống kê truy cập

Tổng lượt xem 101700
Đang Online 30