Một số điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có một số điểm mới nổi bật như sau:

-  Thứ nhất: Nâng độ tuổi kết hôn

Luật mới quy định tuổi kết hôn đối với với nam là từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên thay vì vừa bước sang tuổi 20(19 tuổi+ 1 ngày) đối với nam,  bước sang tuổi 18 (17 tuổi + 1 ngày) đối với nữ như quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

  • Thứ hai: Không cấm kết hôn đồng giới

Từ 01/01/2015, Luật hôn nhân và gia đình 2014 bỏ quy định“cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng vẫn “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Đây cũng được coi là một bước tiến nhỏ trong việc nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nước ta.

-  Thứ ba: Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng khi kết hôn

Ngoài chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 còn quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận (Điều 47,48,49,50 và 59). Bên cạnh đó cũng quy định cụ thể cách giải quyết về con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng các bên khi nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn; không tính thời gian chung sống như vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn vào thời kỳ hôn nhân.

Việc thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm: tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản; nội dung khác có liên quan. Thỏa thuận này vẫn có thể được thay đổi sau khi kết hôn.

-  Thứ tư: Chính chức cho phép mang thai hộ

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (từ Điều 94 đến Điều 100). Việc mang thai hộ chỉ được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản; vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện: có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, vợ chồng đang không có con chung, đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý; người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện: là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ, đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

  • Thứ năm: Thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn

Luật Hôn nhân và gia đình mới năm 2014 cũng bổ sung thêm các đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn tại Điều 51.

Như vậy, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì từ ngày 1-1-2015, cha, mẹ, người thân thích khác cũng có thể yêu cầu giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.



Tin liên quan

Hỗ trợ trực tuyến

HOTLINE :
091 514 9999 - 098 887 6556

support LS Thanh Hải
0913 923 556
support LS Tiến Thi
0926 557 886

Tin tức mới

Thống kê truy cập

Tổng lượt xem 101700
Đang Online 30