Tội bức cung theo quy định của pháp luật hình sự

Tội bức cung là hành vi sử dụng các thủ đoạn trái pháp luật của người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng. Tội bức cung được quy định tại điều 299 của BLHS 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 ) như sau:
“1. Người nào dùng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm”.
Tội bức cung có những dấu hiệu pháp lý sau:

1. Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội này là chủ thể đặc biệt, là người có trách nhiệm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử.

2. Mặt khách quan của tội phạm:

Tội bức cung là tội có cấu thành tội phạm vật chất. Ngoài dấu hiệu hành vi, mặt khách quan của tội phạm đòi hỏi còn có dấu hiệu hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả.

Hành vi phạm tội của tội bức cung là hành vi cưỡng ép người bị thẩm vấn phải khau sai sự thật. Người bị thẩm vấn ở đây có thể là bị can, bị cáo hoặc là người làm chứng hoặc là người bị hại. Người phạm tội có thể dùng những thủ đoạn khác nhau, tác động đến ý chí người bị thẩm vấn, cưỡng ép họ phải khai sai sự thật, trái ý muốn của họ. Những thủ đoạn có thể dùng để cưỡng ép người bị thẩm vấn khai sai sự thật là:

  • Đe dọa sẽ dùng nhục hình;
  • Đe dọa sẽ xử nặng
  • Đe dọa sẽ bắt giam, xét xử người thân thích như vợ, con, bố mẹ,…
  • Đe dọa sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự, tịch thu tài sản,

Hành vi cưỡng ép phải dẫn đến việc người bị thẩm vấn đã khai sai và gây ra hậu quả nghiêm trọng cho việc giải quyết vụ án.

Hậu quả nghiêm trọng có thể là hậu quả xét xử sai một cách nghiêm trọng ( oan hoặc bỏ lọt, xử phạt quá nặng hoặc xử phạt quá nhẹ,…) hoặc có thể là hậu quả bắt giam sai người,…

Cùng với việc xác định hành vi cưỡng ép và hậu quả nghiêm trọng nói trên, điều luật cũng đòi hỏi phải xác định quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Người bức cung chỉ phải chị trách nhiệm hình sự về hậu quả do chính hành vi bức cung của họ gây ra.

3. Mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

Động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu định tội nhưng có thể được xem xét khi quyết định hình phạt.

4. Hình phạt

Hình phạt của tội bức cung được quy định có 3 khung hình phạt.

  • Khung cơ bản có mức phạt tù từ sáu tháng đến ba năm;
  • Khung tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng;
  • Khung tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ năm năm đến mười năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt ngiêm trọng.

Ngoài ra, hình phạt bổ sung bắt buộc cho tội này là hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ.

>>> Xem thêm:



Tin liên quan

Hỗ trợ trực tuyến

HOTLINE :
091 514 9999 - 098 887 6556

support LS Thanh Hải
0913 923 556
support LS Tiến Thi
0926 557 886

Tin tức mới

Thống kê truy cập

Tổng lượt xem 101700
Đang Online 30