Trách nhiệm bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng đặt cọc

Câu hỏi: Chào các luật sự, tôi có câu hỏi muốn được các luật sư tư vấn như sau: Tháng 01/2017, tôi rao bán căn nhà thuộc sở hữu hợp pháp của mình trên phố cổ Hà Nội. Ngày 06/02/2017, anh Nguyễn Mạnh H là người mua, đã đặt cọc cho tôi 500 triệu đồng. Tuy nhiên, hiện nay tôi lại không muốn bán căn nhà đó nữa vì lí do cá nhân. Tôi đã gặp gỡ, nói chuyện để anh H thông cảm và đồng ý nhận số tiền đã đặt cọc. Thế nhưng anh H không chấp nhận và yêu cầu tôi thanh toán khoản lãi suất ngân hàng đối với 500 triệu mà anh H đã vay để đặt cọc cho tôi. Đồng thời bồi thường cho anh ta 500 triệu đồng. Xin nhờ luật sư tư vấn giúp?

Trả lời:
Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi; với trường hợp của bạn, luật sư công ty luật TNHH Đại Dương Long xin tư vấn như sau:

Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Đối với số tiền anh H đã đặt cọc và đề nghị bồi thường của anh H

Trong quy định này không đề cập đến lí do để được coi là hợp pháp. Như vậy, bạn (bên nhận đặt cọc) đã đơn phương từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng. Do đó, theo quy định của pháp luật hiện hành việc Vì không nói rõ trong hợp đồng bạn và anh H có các thỏa thuận khác về bồi thường khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng đặt cọc nên sẽ xảy ra hai trường hợp:

Trường hợp 1: Theo đoạn 3 khoản 2 điều 328, do bạn đã từ chối việc thực hiện hợp đồng nên với quy định này bạn phải trả lại cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc ( tức là bạn phải bồi hoàn số tiền 500 triệu mà anh H đã đặt cọc) và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc (tức là bạn phải bồi thường cho anh H số tiền 500 triệu đồng, nó tương đương với số tiền anh H đã đặt cọc).

Trường hợp 2: Mặc dù quy định khi đơn phương chấm dứt hợp đồng đặt cọc, bên nhận đặt cọc phải chấp nhận trả lại tài sản đã đặt cọc và một khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đó. Thế nhưng trong trường hợp bạn và anh H nếu có thỏa thuận khác trong hợp đồng thì lúc đó, cơ sở để giải quyết vấn đề của bạn sẽ căn cứ vào các điều khoản này.

Đối với yêu cầu thanh toán lãi suất của anh H

Như tôi đã phân tích ở trên, nếu không có thỏa thuận khác về bên chịu lãi suất khi đơn phương chấm dứt hợp đồng đặt cọc hay các điều khoản khác về phạt cọc và các thảo thuận khác. Thì quy định tại điều 328 chỉ buộc bên nhận đặt cọc trả lại số tiền đã đặt cọc và khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đặt cọc. Do đó, cần phải căn cứ vào nội dung mà các anh đã thỏa thuận với nhau trong hợp đồng để đưa ra các đề nghị hợp pháp cho mỗi bên.

>>> Xem thêm:



Tin liên quan

Hỗ trợ trực tuyến

HOTLINE :
091 514 9999 - 098 887 6556

support LS Thanh Hải
0913 923 556
support LS Tiến Thi
0926 557 886

Tin tức mới

Thống kê truy cập

Tổng lượt xem 101700
Đang Online 30